Bản tin VNSTEEL News 63

Những nội dung chính sẽ có trong tuần này:

- Kết quả SXKD 5 tháng đầu năm 2026

- Xuất khẩu thép Việt sang ASEAN tăng mạnh

02/06/2026 16:01

Tin 1: Kết quả sxkd VNSTEEL 5 tháng đầu năm 

Trong tháng 5, giá bình quân của hầu hết các mặt hàng thép trên thị trường thế giới ghi nhận mức tăng trưởng so với cả tháng trước lẫn cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, về cuối tháng, giá một số mặt hàng đã điều chỉnh giảm, như quặng sắt, than mỡ, phôi thép, thép cán nóng. 
Thị trường trong nước: Trong tháng 5, một số nhà sản xuất giảm giá thu mua thép phế liệu nội địa với mức giảm dao động từ 100.000 đến 200.000 đồng/tấn. Giá phôi cũng điều chỉnh giảm, giá phôi hiện phổ biến từ 12,85 đến 13,5 triệu đồng trên tấn. Đối với thép xây dựng, mặt bằng giá bán của các thương hiệu lớn tiếp tục duy trì trạng thái đi ngang ổn định từ đầu tháng 4 kéo dài sang tháng 5. Đầu tháng 6 ghi nhận động thái giảm giá bán từ một số nhà máy tại khu vực phía Nam, với mức giảm phổ biến là 300 đồng/kg. Tháng 5, giá chào thép cán nóng của Fomorsa và Hoà Phát đều tăng mạnh, với mức tăng từ 1,3 đến 1,5 triệu đồng trên tấn so với tháng trước. Bước sang tháng 6, Hoà Phát thông báo giảm giá thép cán nóng 350 đồng trên kg. Đối với thị trường tôn mạ, do giá nguyên liệu tăng nên các nhà máy tôn mạ tiếp tục điều chỉnh tăng giá bán. Tuy nhiên, về cuối tháng, thị trường có dấu hiệu chậm lại sau giai đoạn tăng giá kéo dài trong bối cảnh sức mua vẫn thấp. 
Luỹ kế 5 tháng đầu năm, tổng tiêu thụ thép thành phẩm toàn hệ thống VNSTEEL tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, tiêu thụ thép cán dài tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Tiêu thụ khối Công ty kim khí tăng trưởng tốt trên 32,7%. Riêng tôn mạ sản lượng tiêu thụ giảm so với cùng kỳ năm trước. 

Tin 2: Xuất khẩu thép Việt sang ASEAN tăng mạnh 

Theo Cục Hải quan, tháng 4/2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 1,03 triệu tấn, trị giá 680  triệu USD,  giảm 5,79% về lượng và giảm 4,21% về trị giá so với tháng 4/2025.  
 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của cả nước đạt 3,86 triệu tấn, trị giá 2,48 tỷ USD, tăng 0,7% về lượng và giảm nhẹ 0,5% so với cùng kỳ năm trước.  
ASEAN tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, chiếm 36,92% tỷ trọng trong tổng lượng thép xuất khẩu. 
Xuất khẩu sắt thép sang thị trường ASEAN trong 4 tháng đạt 1,43 triệu tấn, trị giá 840,9 triệu USD, tăng 15,57% về lượng và tăng 13,79% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhu cầu xây dựng hạ tầng, bất động sản và công nghiệp tại các nước Đông Nam Á  phục hồi tích cực. ASEAN tiếp tục đóng vai trò là khu vực “bệ đỡ” cho xuất khẩu thép Việt Nam nhờ lợi thế khoảng cách địa lý, chi phí vận chuyển thấp và ưu đãi thuế quan nội khối. 
Xuất khẩu sắt thép sang thị trường EU trong 4 tháng đạt 627,03 nghìn tấn, trị giá 400 triệu USD, giảm 14,55% về lượng và giảm 20,49% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.  
Với mức thực hiện này, EU là khu vực thị trường có mức suy giảm mạnh nhất trong số các thị trường xuất khẩu sắt thép lớn của Việt Nam.   
Mỹ là thị trường xuất khẩu thép lớn thứ ba của Việt Nam sau ASEAN và EU trong 4 tháng đầu năm 2026, đạt 516,63 nghìn tấn, trị giá 301 triệu USD, tăng 33,19% về lượng và 24,18% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. 
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hoạt động đầu tư hạ tầng và xây dựng tại Mỹ duy trì tích cực; các nhà nhập khẩu Mỹ gia tăng đa dạng hóa nguồn cung ngoài thị trường Trung Quốc; nguồn thép Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về giá. 
Tuy nhiên, rủi ro điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và các biện pháp bảo hộ thương mại của Mỹ vẫn là yếu tố cần đặc biệt lưu ý với một số chủng loại thép của nước ta. 
Thêm một điều tích cực nữa của hoạt động xuất khẩu thép 4 tháng đầu năm 2026 sang một số thị trường mới nổi tăng mạnh cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025, nổi bật là Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ với mức tăng lần lượt 43,03% và 189,3% về lượng, cùng với trị giá xuất khẩu tăng 55,22% và 232,7%.  
Một số thị trường truyền thống và khu vực phát triển như Đài Loan, Hàn Quốc, Australia, Anh ghi nhận mức giảm đáng kể cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là do nhu cầu thép yếu, cạnh tranh gia tăng và các yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe, ảnh hưởng đến khả năng duy trì thị phần của thép Việt Nam. 
 
 VNSTEEL News